Những vấn đề về Kết thúc có hậu của chuyện tình sau song sắt
Xem thêm Ảnh và video clip về tại đây

Phía sau song sắt trại giam, ngay cả ở nơi tận cùng đau khổ và sai lầm vẫn có những nụ cười hạnh phúc, những ước mơ, khao khát về một cuộc sống tươi đẹp hơn trong tương lai. Họ là những người tù. Họ đã mắc sai lầm và phải trả giá cho những sai lầm đó. Nhưng tình yêu đã giúp họ hồi sinh và tìm ra được con đường đi cho chính cuộc đời mình.
Những ám ảnh hận thù của một người chồng
Câu chuyện bi kịch nhưng có kết thúc có hậu của phạm nhân Nguyễn Thế Anh đã được các cán bộ trại giam ở phân trại II kể mãi cho đến tận bây giờ, như một minh chứng cho sự hồi sinh kì diệu của tình yêu, vượt qua cả những nỗi đau, những hiểu nhầm, những mất mát và sai lầm trong cuộc sống.
Trước khi trở thành một kẻ tù tội với án tù 20 năm vì tội buôn ma túy, Nguyễn Thế Anh chỉ là một người đàn ông miền núi hiền lành, chất phác, thật thà. Từ Thái Bình chuyển lên Điện Biên sinh sống và lập nghiệp, cuộc sống của vợ chồng Nguyễn Thế Anh đã trải qua những năm tháng khó khăn, vất vả khi cả hai đều không có công ăn việc làm ổn định. Ngày đó, thu nhập của cả hai vợ chồng Nguyễn Thế Anh chỉ trông vào quán cháo đêm bán ở vỉa hè thành phố. Số tiền ít ỏi kiếm được chẳng thể giúp cuộc sống của vợ chồng Nguyễn Thế Anh và 3 đứa con được thoải mái với hàng trăm thứ lo toan bộn bề. Nhưng vất vả đến mấy, hai vợ chồng anh vẫn yêu thương, đùm bọc nhau. Buổi tối cả hai vợ chồng cùng tất tả với quán cháo đến tận đêm. Để kiếm thêm thu nhập, ban ngày, hai vợ chồng anh còn bán thêm một mâm đậu phụ nhỏ ở chợ. Đêm nào cả hai vợ chồng anh cũng cùng nhau dậy từ nửa đêm làm đậu để kịp bán chợ sáng. Những vất vả, nhọc nhằn do thức khuya dậy sớm được xua tan bởi ánh mắt ấm ám và tình yêu thương mà đôi vợ chồng nghèo đó dành cho nhau. Nhưng năm đó, khi đứa con trai út của hai vợ chồng Nguyễn Thế Anh bị mắc bệnh máu trắng, thì cuộc sống của gia đình anh lâm vào khủng hoảng nặng nề. Không có tiền chữa bệnh cho con, hai vợ chồng anh chỉ biết nhìn con mà ứa nước mắt. Đúng lúc đó thì vợ anh được một người bạn rủ đi buôn bán trên biên giới, với lời hứa hẹn sẽ kiếm được rất nhiều tiền. Vì thương con, chị bàn bạc với anh, quyết tâm xa nhà làm ăn với hi vọng tiền kiếm được có thể cứu được sự sống mong manh của đứa con trai nhỏ.
Ngày chị đi lên biên giới Lạng Sơn làm ăn, anh đã dặn vợ hai điều: nếu khó khăn quá thì hãy quay trở lại và dù thế nào cũng phải viết thư về báo cho gia đình. Ngày đó điện thoại còn là một thứ xa xỉ với những người dân miền núi. Sau khi dồn hết vốn liếng cho vợ đi làm ăn, một mình anh ở nhà vừa lo chuyện cơm áo, vừa lo tiền thuốc thang cho đứa con bệnh tật. Những ngày đó, điều anh mong chờ nhất là một dòng thư của vợ, báo tin chị vẫn khỏe mạnh ở xứ người. Nhưng cứ đợi ngày này qua tháng khác, những lá thư vẫn không hề xuất hiện, những tin tức về chị vẫn biệt vô âm tín. Những người sống xung quanh nơi vợ chồng anh sinh sống bắt đầu xì xào về việc vợ anh đã bỏ bố con anh đi theo người đàn ông khác. Khi những lời xì xào đó đến tai anh, dù thâm tâm không hề muốn tin, nhưng anh không thể chối bỏ những mối nghi ngờ bắt đầu nhen nhóm và ngày một lớn lên trong lòng mình. Anh không thể lý giải được tại sao vợ mình không viết thư báo tin về nhà, không hiểu vì sao chị đi bặt tăm mà không một lời hỏi han đứa con bệnh tật. Có những đêm ôm đứa con trai ốm yếu trong tay, nghe con vừa khóc vì đau đớn, vừa mếu máo hỏi: “bố ơi mẹ đâu”, anh đã bắt đầu hận chị. Đó là lúc anh thực sự tin rằng chị đã đành lòng vứt bỏ gia đình, vứt bỏ 3 đứa con thơ nhỏ dại và vứt bỏ anh – người chồng nghèo khó để đi tìm một cuộc đời mới tươi sáng hơn.
Ngày đứa con trai qua đời vì căn bệnh hiểm nghèo, anh ngồi bên mộ con suốt một ngày, cay đắng nghĩ rằng cái nghèo là nguyên nhân của mọi sự bất hạnh trong đời mình. Không có tiền, nên anh không thể cứu được đứa con mà anh dứt ruột đẻ ra. Không có tiền nên anh đã bị người vợ đầu gối tay ấp mà anh hết mực yêu thương bỏ rơi không thương tiếc. Sau 49 ngày đứa con trai út, anh đã thề quyết định thoát khỏi nghèo khó bằng mọi giá. Gom góp toàn bộ những thứ có giá trị nhất trong nhà đem bán, anh đưa hai đứa con đến một vùng đất khác làm lại cuộc đời và bắt đầu dấn thân vào con đường buôn bán ma túy. Cả đời sống lương thiện, nên trước giờ phút đó, anh chưa bao giờ từng nghĩ mình sẽ đi gieo rắc cái chết cho những người vô tội. Nhưng sự nghèo khó, nỗi đau mất con và nỗi hận bị vợ phụ bạc đã khiến anh biến thành một người đàn ông khác. Anh lao vào kiếm tiền bằng cách buôn bán cái chết, bất chấp việc đó đồng nghĩa với đẩy nhiều gia đình rơi vào cảnh bất hạnh. Cha con anh đã không còn phải sống nghèo khó, kham khổ như xưa, nhờ những lợi nhuận khổng lồ mà việc buôn bán ma túy đem lại. Nhưng càng có nhiều tiền bao nhiêu, càng ăn sung mặc sướng bao nhiêu, gương mặt anh lại càng khắc khổ đau đớn bấy nhiêu. Đến nỗi mà có một lần đứa con gái lớn của anh đã nhìn thẳng vào mắt anh mà nói: “Bây giờ bố giàu có, nhưng con thấy bố không có được một phần hạnh phúc như khi chúng ta còn nghèo”. Chính anh cũng đã kịp hiểu ra tiền chẳng giúp anh tìm được hạnh phúc, cũng không giúp anh xóa bỏ được nỗi oán hận trong lòng, nhưng anh vẫn bước theo nó, dấn thân vào nó, như một con thiêu thân lao vào lửa. Cho đến ngày anh bị bắt và bị công an đưa đi trước ánh mắt đau đớn và ngơ ngác của hai đứa con nhỏ.
Hóa giải hận thù. Yêu thương trở lại
Nhờ sự khoan hồng của pháp luật, anh chỉ bị mức án 20 năm cho những sai lầm mình mắc phải. Nhưng điều đó cũng đủ khiến cuộc đời Nguyễn Thế Anh sụp đổ. Ngày mới vào trại giam, anh lầm lì, ít nói, không bao giờ cười và không bao giờ nói chuyện với ai quá hai câu, kể cả các cán bộ quản giáo. Anh sống như một chiếc bóng giữa hàng trăm phạm nhân. Những ngày nằm trong nhà giam, nghĩ về hai đứa con nhỏ bơ vợ ở ngoài, đứa lớn mới 18 tuổi, đứa nhỏ 15 mà anh rơi nước mắt vì thương con. Cái ý nghĩ con cái không có nơi nương tựa khi anh đi tù khiến anh thắt lòng. Càng trong đau khổ, nỗi hận với người vợ phụ bạc càng lớn. Có những đêm không ngủ được vì thương con, anh đã nguyền rủa vợ, đã thù hận chị đến mức tưởng như có thể sẵn sàng giết chết chị nếu gặp lại. Chính vì thế, ngày chị xuất hiện trong trại giam, cùng hai đứa con nhỏ vào thăm anh, với gương mặt đẫm nước mắt, là điều anh hoàn toàn không bao giờ ngờ tới. Gặp anh, chị chỉ biết lao đến ôm lấy chồng khóc nức nở, luôn miệng nói: “Anh ơi, sao lại ra nông nỗi này”. Gần 10 năm sau khi hai vợ chồng biệt vô âm tín, hoàn toàn mất tin nhau, cuối cùng họ mới có cơ hội ngồi lại với nhau và hóa giải mọi hiểu lầm.
Chị kể, sau khi lên biên giới làm ăn, chưa kịp thư từ về cho gia đình, chưa kịp kiếm được một đồng lời lãi nào gửi về chữa bệnh cho con, chị – người phụ nữ bơ vơ nơi đất khách đã bị kẻ gian lừa bán sang Trung Quốc. Những ngày bị bán trao tay hết nhà chứa này đến nhà chứa khác là những ngày cùng cực trong cuộc đời chị. Mỗi ngày tiếp hàng chục khách, bị dày vò đau đớn về thể xác, nỗi nhục nhã đó khiến chị đau đớn một, nhưng nỗi nhớ thương và lo lắng cho chồng con khiến chị đau đớn mười. Có những đêm nằm mơ đứa con nhỏ ở nhà đang quằn quại, đau đớn vì bệnh tật, chị bật dậy và khóc nức nở như một đứa trẻ. 5 năm đi qua hết nhà chứa này đến nhà chứa khác, chị đã trở thành một người phụ nữ thân tàn ma dại. Đến lúc không còn tiếp khách được nữa, chủ chứa bán chị cho một người nông dân nghèo làm vợ. Chị sống lay lắt trong tuyệt vọng như thế được gần 1 năm trời thì bỏ trốn được về Việt Nam. Ngay khi về Việt Nam, việc đầu tiên và duy nhất xuất hiện trong đầu chị là tìm về với chồng con. Nhưng ngôi nhà nhỏ nơi ngày xưa gia đình chị vẫn ở đã được bán cho người khác. Hàng xóm xung quanh cũng không biết tin tức về chồng con chị. Tuyệt vọng, đau đớn, chị cứ lang thang, kiếm tìm hết nơi này đến nơi khác trong vô định. Trong những ngày lang thang đó, sức khỏe suy yếu phải vào bệnh viện khám, chị mới biết mình đã nhiễm HIV. Giây phút đó, chị đã nghĩ mình vĩnh viễn phải từ bỏ việc đi tìm chồng, con, vì chị không còn mặt mũi nào nhìn những người thân yêu của mình. Những năm tháng bị đày đọa nơi xứ người đã hủy hoại cuộc đời chị, cướp đi mọi thứ chị có.
Nhưng chính vào lúc chị sống trong tuyệt vọng, không phương hướng và đầu hàng số phận, thì chị bất ngờ đọc được một bài báo nhỏ viết về việc phạm tội của chồng. Đọc bài báo đó mà chị không tin được vào mắt mình, không tin được rằng chồng mình đã bị đi tù vì ma túy. Bản năng và tình yêu thương của người vợ, người mẹ lại trỗi dậy. Lần theo địa chỉ trong bài báo, chị tìm gặp lại được hai đứa con đang bơ vơ, ngơ ngác trước bi kịch gia đình. Gần 10 năm không gặp lại, ba mẹ con chị chỉ biết ôm nhau khóc.
Ngày trùng phùng với con cái, chị đã không mấy khó khăn để kể cho các con nghe về những bất hạnh của mình. Nhưng dù các con có khích lệ, động viên đến mấy, chị cũng không đủ can đảm để đối diện với chồng. Chị không đủ can đảm để xuất hiện trước mặt anh trong hoàn cảnh bẽ bàng đó, không đủ can đảm để nói với anh về những nhơ nhớp mà chị đã trải qua, không đủ can đảm để cho anh biết về căn bệnh chị đang mang trong người. Nhưng sau những giây phút không thể vượt qua nổi chính mình, chính đứa con gái đang ở tuổi mới lớn đã khích lệ chị. Nó đã nói: “Mẹ đừng để bố phải hiểu nhầm và hận mẹ suốt đời”. Câu nói đó đã khiến chị thức tỉnh. Chị theo hai con vào thăm anh. Sau 10 năm không gặp, nhìn thấy anh, chị chỉ làm duy nhất được một việc, đó là lao vào anh và khóc. Lúc đầu anh đã đón nhận chị với sự ghẻ lạnh và ánh mắt thù hằn. Nhưng cứ sau mỗi lời chị kể, ánh mắt anh lại dịu lại, sự ghẻ lạnh mất dần đi và yêu thương tưởng đã chết lại trỗi dậy. Đến lúc nghe chị nói chị bị mắc phải căn bệnh thế kỷ, thì nước mắt anh ứa ra, anh ôm lấy chị và vỗ về chị như một đứa trẻ. Anh đã sống 10 năm hận thù chị đến tột cùng. Nhưng chỉ sau 1 tiếng gặp mặt, sự hận thù đã hoàn toàn biến mất. Anh lại yêu thương chị như những ngày hai vợ chồng còn hàn vi.
Khi gặp lại nhau, cả anh và chị đều đang phải trải qua những nỗi đau đớn khôn cùng: với anh là án tù 20 năm. Với chị là căn bệnh HIV vô phương cứu chữa. Nhưng sau những thăng trầm, những khổ đau đã gặp phải, tất cả những điều đó không còn đủ sức ngăn cản họ trở về bên nhau. Anh ở trong tù, đấu tranh với chính mình để rèn luyện, cải tạo với khao khát trở về. Chị ở ngoài thay anh chăm sóc con cái trưởng thành, vừa đấu tranh với bệnh tật. Tình yêu giúp những năm tháng tù đày của anh trôi qua nhanh chóng. Tình yêu cũng giúp chị chống chọi một cách phi thường với bệnh tật. 2 năm trước, anh được đặc xá tha tù và được đoàn tụ với chị. Họ đã có những ngày bên nhau hạnh phúc thực sự đầu tiên sau nhiều năm xa cách. Đó là một kết thúc đẹp cho hai con người đã biết vượt qua số phận để tìm lại hạnh phúc cho chính mình.
Tình yêu dại dột của đôi tình nhân trẻ và lời hứa hoàn lương
Những ngày ở trại giam, quản giáo Trần Văn Bình đã kể cho tôi nghe một câu chuyện đầy nuối tiếc về một đôi tình nhân trẻ đã vì một phút nông nổi mà phạm phải những tội lỗi khiến họ ân hận cả đời. Chính quản giáo Bìnhs là người đã tiếp nhận phạm nhân Trần Ngọc Trung, phạm tội giết người, cướp tài sản vào trại giam. Những ngày đầu mới quản lý cậu phạm nhân trẻ tuổi có gương mặt sáng sủa, thông minh, quản giáo Bình không khỏi nuối tiếc và cứ luôn đặt một câu hỏi: lý do nào đã khiến chàng trai trẻ này phạm phải tội ác như thế. Chỉ đến khi đọc hồ sơ, quản giáo Bình mới bàng hoàng biết rằng, Nguyễn Ngọc Trung – một chàng sinh viên năm thứ 3 Đại học đã cùng với người yêu của mình đi giết người, cướp của, chỉ vì muốn có tiền chữa bệnh cho mẹ người yêu. Lý do phạm tội quá đau đớn của chàng sinh viên trẻ đã khiến quản giáo Bình tìm mọi cách gần gũi, động viên, hỏi han với hi vọng Trung có thể chia sẻ về con đường đưa đẩy mình đến với tội ác.
Nguyễn Ngọc Trung đã tâm sự, là con nhà nghèo, bố mất sớm, nhưng từ nhỏ Trung đã được mẹ tạo mọi điều kiện học hành. Nhờ sáng dạ, thông minh, nên thời học phổ thông, năm nào Trung cũng là học sinh giỏi nhất nhì khối. Trung đỗ đại học một cách dễ dàng, trong niềm hạnh phúc của người mẹ nghèo. Tuy nhiên, khi năm cuối đại học vừa chuẩn bị kết thúc cũng là lúc Trung nhận được tin dữ: mẹ anh đã qua đời vì căn bệnh ung thư giai đoạn cuối được phát hiện quá muộn màng.
Những ngày tháng sau khi mất mẹ, Nguyễn Ngọc Trung hoàn toàn suy sụp. Trung đã trải qua một mùa hè chỉ biết khóc thương mẹ và oán trách số phận bất hạnh của mình. Tuy nhiên, cuộc sống vốn thiếu thốn, bất hạnh từ nhỏ đã giúp Trung vượt qua những nỗi đau đó. Khi nỗi đau qua đi, cũng là lúc Trung quyết định sẽ tìm mọi cách vượt qua khó khăn, học hành thành tài để làm món quà dâng lên linh hồn người mẹ quá cố. Năm thứ 2 đại học, không có sự giúp đỡ của mẹ, Trung vừa đi học, vừa đi làm. Những lần phục vụ, bưng bê trong quán ăn đã giúp anh quen biết với Hiền, cô sinh viên nghèo cùng làm thuê trong quán. Cả Trung và Hiền có rất nhiều điểm chung với nhau: Cả hai đều là những sinh viên nghèo, vượt khó, học giỏi và đều đi làm thêm để trang trải cuộc sống. Hiền cũng mất bố từ nhỏ và đang sống với người mẹ nay yếu, mai đau. Sự đồng cảm giữa hai con người có nhiều điểm chung đã khiến tình yêu giữa đôi sinh viên nghèo nảy nợ. Họ yêu nhau, cùng nhau đi làm thêm kiếm tiền lo học hành và cùng động viên nhau phấn đấu. Nhưng khi tương lai tưởng như đã có thể nắm chắc trong tay thì những biến cố không lường đã xảy đến, đẩy cuộc đời đôi tình nhân trẻ bước sang một hướng hoàn toàn khác.
Khi cả Trung và Hiền đang ở năm thứ 3 đại học thì tai họa ập đến. Bệnh tình của mẹ ngày càng nặng khiến mỗi lần gặp người yêu, Hiền chỉ biết nước mắt ngắn nước mắt dài. Nhìn người yêu gầy rộc đi vì lo lắng, Trung bất lực vì cái nghèo đã khiến anh chẳng thể giúp đỡ gì cho người con gái mình yêu. Những ngày nhìn Hiền vật vã lo kiếm từng đồng để chạy chữa cho mẹ, Trung đã nảy sinh ra một ý định khủng khiếp, cái ý định mà sau này chính anh cũng không thể lý giải được vì sao mình lại có thể nghĩ ra. Hôm đó, khi thấy người yêu bần thần vì không kiếm đâu ra tiền, Trung đã đề nghị với người yêu thực hiện một vụ cướp của. Sau những giây phút bàng hoàng, sững sờ ban đầu, cô gái đang mụ mẫm đầu óc vì lo lắng cho mẹ đã gật đầu đồng ý với lời đề nghị sai trái và dại dột của người yêu. Đêm hôm đó, cả hai đã giả vờ thuê một chuyến xe ôm và ra tay với người lái xe ôm tội nghiệp ở một cung đường vắng. Cướp được xe, Trung mang ngay đi bán để đưa cho người yêu mang về chữa bệnh cho mẹ. Nhưng chỉ 3 ngày sau, công an đã ập đến và bắt cả Trung và Hiền. Mẹ của Hiền đang trong lúc đau yếu, bệnh tật, nghe con gái phạm tội cướp của giết người đã không chịu nổi cú sốc mà qua đời. May mắn cho đôi tình nhân trẻ dại dột là người lái xe ôm – nạn nhân của Trung và Hiền đã không chết dưới nhát dao chí mạng của họ. Thương xót trước hoàn cảnh phạm tội của hai sinh viên trẻ, trước tòa ông đã đứng ra xin tòa giảm án cho hai kẻ phạm tội. Trung nhận mức án 17 năm tù, còn Hiền nhận mức án 13năm. Mức án đó như một dấu niêm phong chính thức đóng lại cánh cửa tương lai rạng rỡ đã từng chờ đợi họ.
Được đưa đi cải tạo ở hai trại giam khác nhau, Trung và Hiền vẫn viết thư liên lạc với nhau. Trong những lá thư gửi đi gửi lại qua hai trại giam, cái mà đôi tình nhân này nói đến nhiều nhất là sự sám hối. Họ đã cùng nhau ân hận, cùng nhau dằn vặt về sai lầm mình đã mắc phải và cùng động viên nhau cải tạo để làm lại cuộc đời. Có những lá thư viết cho người yêu, Trung bảo: “Sau này khi ra tù, anh muốn chúng ta cùng ăn chay để sám hối cho lỗi lầm của mình. Chúng ta nhất định sẽ phải sống tốt để không phụ tình thương yêu của hai mẹ và sự tha thứ mà người lái xe ôm ấy đã dành cho chúng ta”. Nhờ những lá thư đó, cả hai đã cùng nhau vượt qua những năm tháng tù đầy, vượt qua những khó khăn, vất vả, những cô đơn, buồn tủi khi không có người thân đến thăm. Người yêu Trung ra tù năm 2005. 2 năm sau, Trung cũng ra tù nhờ được đặc xá. Khi viết thư lên cho quản giáo Bình, Trung kể rằng ngày đầu tiên trở về xã hội, anh đã cùng người yêu đến thăm và cảm ơn người lái xe ôm mà họ đã suýt giết hại năm nào, rồi đi thắp hương tạ tội trước mộ mẹ. Trước ngôi mộ của hai người mẹ đã khuất, cả Trung và Hiền đều đã hứa sẽ sống cho thật xứng đáng với tình yêu thương và sự hi sinh của mẹ.
Bình Minh Đông Xem thêm Ảnh và video clip tại đây

0 nhận xét to "Kết thúc có hậu của chuyện tình sau song sắt"